Viêm cầu thận sau nhiễm khuẩn (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 9 - 1 - 2016

Miễn dịch huỳnh quang cho thấy có IgG, C3 trong hình ảnh hạt ở khoang liên mạch và dọc theo màng đáy mao mạch. Qua kính hiển vi điện tử thấy có lắng đọng dưới liên bào dày đặc và lan rộng hay còn gọi là bướu lồi.

Viêm cầu thận sau nhiễm khuẩn thường gặp nhất là sau nhiễm liên cầu tan huyết nhóm A gây viêm thận, đặc biệt là typ 12. Bệnh xuất hiện rải rác hoặc thành từng cụm và trong vụ dịch có thể gặp đến 10% bệnh nhân nhiễm liên cầu. Thường hay gặp nhất sau viêm họng và chốc lở từ 1 - 3 tuần, trung bình là 7 - 10 ngày.

Các nguyên nhân nhiễm khuẩn khác có thể là tình trạng nhiễm khuẩn huyết như nhiễm khuẩn huyết tụ cầu vàng. Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn đường thông hoặc cầu nối cũng gây tổn thương tương tự, nhưng thời gian bị bệnh ngắn hơn, nên thường gọi là viêm cầu thận quanh nhiễm khuẩn. Các nguyên nhân khác như virus, nấm, kí sinh trùng cũng có thể gặp như viêm gan virus B, nhiễm cytomegalovirus, tăng bạch cầu đơn nhân nhiêm khuẩn, nhiễm nám coccidioides, sốt rét, toxoplasma.

Các biểu hiện

Các triệu chứng và dấu hiệu

Bệnh nhân bị thiểu niệu, phù, có thể tăng huyết áp ở các mức độ.

Các dấu hiệu cận lâm sàng

Nồng độ bổ thể máu thấp. Hiệu giá ASLO có thể cao, trừ khi đáp ứng miễn dịch bị mờ đi do điều trị kháng sinh. Nước tiểu có màu coca - cola. Hồng cầu niệu, trụ hồng cầu. Protein niệu thường < 3,5 g/ngày. Qua sinh thiết có hình ảnh viêm cầu thận tăng sinh lan tỏa. Miễn dịch huỳnh quang cho thấy có IgG, C3 trong hình ảnh hạt ở khoang liên mạch và dọc theo màng đáy mao mạch. Qua kính hiển vi điện tử thấy có lắng đọng dưới liên bào dày đặc và lan rộng hay còn gọi là bướu lồi.

Điều trị

Tùy từng nguyên nhân. Chủ yếu là điều trị hỗ trợ, bằng thuốc lợi niệu, hạn chế muối và dịch, thuốc hạ huyết áp nếu cần. Corticoid không cải thiện được bệnh. Tiên lượng ở trẻ em rất tốt, nhưng ở người lớn có xu hướng chuyển thành thể tạo liềm và dẫn đến suy thận. Khoảng dưới 50% người lớn sẽ tiến triển theo kiểu viêm cầu thận diễn biến nhanh và một tỷ lệ thấp hơn sẽ tiến triển đến bệnh thận giai đoạn cuối.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh nang thận (chẩn đoán và điều trị)

Đau bụng và mạng sườn là do nhiễm khuẩn, chảy máu trong nang hoặc do sỏi thận. Điều trị thông thường bằng các thuốc giảm đau và nghỉ ngơi tại giường. Nếu đau mạn tính, có thể cần phải chọc hút để giảm áp lực trong nang.

Suy thận cấp (chẩn đoán và điều trị)

Các dấu hiệu gặp trong suy thận cấp chủ yếu là do hậu quả của tăng urê máu và các nguyên nhân gây suy thận. Tăng urê máu gây buồn nôn, nôn, mệt thỉu, rối loạn cảm giác.

Hội chứng thận hư (chẩn đoán và điều trị)

Protein niệu là do hậu quả hư biến sự tích điện âm của màng đáy cầu thận. Có thể dùng băng giấy để xét nghiệm sàng lọc, nhưng cần nhớ loại xét nghiệm này chỉ xác định được albumin mà thôi.

Viêm cầu thận (chẩn đoán và điều trị)

Viêm cầu thận cấp phối hợp với kháng thể chống màng đáy cầu thận có thể chỉ khu trú ở thận, hoặc kết hợp với xuất huyết phổi trong hội chứng Goodpasture.

Bệnh thận mãn tính (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh thận mạn ít khi hồi phục và thường dần dần dẫn đến tới giảm chức năng thận, thậm chí ngay cả khi các nguyên nhân ban đầu đã được loại bỏ. Sự giảm tổng lượng cầu thận làm phì đại các cầu thận còn lại, và như vậy, mức lọc cầu thận trở lại bình thường tức thời.

Viêm thận kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Viêm thận kẽ cấp tính thường có tiên lượng tốt. Thường khỏi sau vài tuần đến vài tháng. Tuy nhiên, có đến 1/3 số trường hợp cần lọc máu ngoài thận trọng khi chờ đợi thận hồi phục

Bệnh ống thận - mô kẽ mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Có bốn nguyên nhân chính gây tình trạng bệnh này. Các nguyên nhân khác là: đa u tủy xương và bệnh gout được mô tả ở phần bệnh đa hệ thống có ảnh hưởng thận ở mức độ khác nhau.

Các bệnh đa hệ thống có tổn thương thận

Cần điều trị bệnh nhân bị đa u tủy xương có protein Bence Jones niệu bằng melphalan và prednison. Tránh làm tăng calci máu và uống nhiều nước đề phòng rối loạn chức năng thận nặng lên.

Hoại tử ống thận cấp (chẩn đoán và điều trị)

Nguyên nhân chủ yếu khác của hoại tử ống thận cấp là do tiếp xúc với các chất gây độc thận. Các chất gây độc thận ngoại sinh thường gây tổn thương nặng hơn các chất độc nội sinh.

Tiếp cận khám và thăm dò bệnh nhân bị bệnh thận

Protein niệu không phải là một bệnh, mà là một dấu hiệu đang có một bệnh lý nào đó của thận. Khi do bệnh thận hoặc bệnh toàn thân, thường có các dấu hiệu bệnh lý khác đi kèm.

Các bệnh ống thận - tổ chức kẽ

Thể mạn tính có thể là giai đoạn tiếp sau của thể cấp, nhưng cũng có thể không có liên quan rõ rệt với các nguyên nhân cấp tính. Xơ mô kẽ và teo ống thận thường gặp với nhiều bạch cầu đơn nhân. Thể mạn tính được mộ tả sau đây.

Bệnh thận thể hiện cả hội chứng thận hư và thận viêm

Bệnh nhân bị viêm cầu thận tăng sinh màng typ II thường đến viện với bệnh cảnh viêm thận và ít gặp hơn typ I, Hình ảnh vi thể qua kính hiển vi thường giống typ I.

Bệnh thận hư trong các bệnh thận tiên phát (chẩn đoán và điều trị)

Đây là thể gặp chủ yếu ở người lớn bị hội chứng thận hư tiên phát và là bệnh miễn dịch qua trung gian tế bào có đặc điểm là lắng đọng phức hợp miễn dịch tại phần dưới liên bào của thành mao mạch cầu thận, chưa rõ kháng nguyên là chất nào trong bệnh tiên phát.

Bệnh thận hư do các bệnh hệ thống (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh thận ở người nhiễm HIV có thể biểu hiện dưới dạng hội chứng thận hư. Đa số là bệnh nhân nam trẻ, da đen, nhiễm HIV do tiêm chích ma túy.

Hội chứng thận viêm (chẩn đoán và điều trị)

Thường xét nghiệm thấy hồng cầu trong nước tiểu, có hình dạng thay đổi do đi qua màng mao mạch bị tổn thương nên được gọi là hồng cầu biến dạng. Trong nước tiểu cũng thường có tru hồng cầu và protein niệu vừa phải.