Cắt amidan (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 9 - 9 - 2016

Hiện nay thấy rõ ràng là các bệnh nhân phẫu thuật cắt amidan ngoại trú thường an an toàn nếu theo dõi trong thời gian 6 giờ mà không có biến có gì.

Mặc dù thường vẫn được thực hiện thủ thuật này song chỉ định thủ thuật vẫn còn đang được tranh luận. Phần lớn đồng ý tắc nghẽn hô hấp gây ngừng thở hoặc bệnh tim phổi là chỉ định tuyệt đối cắt amidan. Tương tự khi nhận thấy amidan không đối xứng phải kịp thời làm phẫu thuật sinh thiết để loại trừ khả năng u lympho. Chỉ định tương đối bao gồm viêm amidan tái phát do liên cầu, nguyên nhân đáng kể làm mất thời gian học tập và lao động, áp xe quanh amidan tái phát và viêm amidan mạn tính.

Cắt amidan không phải bao giờ cũng an toàn. Tai biến chảy máu sau phẫu thuật gặp ở 2 - 8% số trường hợp và trong một số ít các trường hợp có thể dẫn tới co thắt thanh quản và tắc nghẽn đường thở. Đau cũng đáng lưu ý, đặc biệt là ở người lớn. Cần thảo luận kỹ các yếu tố thuận và yếu tố chống trên từng bệnh nhân, thêm vào đó vấn đề kinh tế khiến phẫu thuật này được thực hiện như một phẫu thuật ngoại trú. Xuất huyết, nôn kéo dài hoặc sốt xuất hiện ở khoảng 1% số trường hợp và những biến chứng này thường xuất hiện trong khoảng 6 giờ, nhưng nếu tiếp tục xuất hiện muộn hơn trong khoảng thời gian 24 giờ thì cần cho nhập viện và tiếp tục chú ý theo dõi tình trạng này. Hiện nay thấy rõ ràng là các bệnh nhân phẫu thuật cắt amidan ngoại trú thường an an toàn nếu theo dõi trong thời gian 6 giờ mà không có biến có gì. Nhưng quyết định oòn phải phụ thuộc vào từng người.

Mặc dù các báo cáo trong những năm 1970 đã gợi ý về mối liên quan giữa cắt amidan với bệnh Hodgkin và cần xem xét cẩn thận trường hợp này vì không thấy được nguyên nhân kết hợp nào.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh lý vòi nhĩ (vòi eustachi, chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng (chấn đoán và điều trị)

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Viêm họng và viêm amidan (chẩn đoán và điều trị)

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Viêm xoang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm xoang xảy ra khi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang. Các bệnh làm phù nề niêm mạc như viêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp.

Ù tai (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Liệt dây thanh âm (chẩn đoán và điều trị)

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Viêm lưỡi và đau lưỡi (chẩn đoán và điều trị)

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ (chẩn đoán và điều trị)

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong (chẩn đoán và điều trị)

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Bệnh lý tai giữa (chẩn đoán và điều trị)

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Nghe kém tiếp nhận (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Viêm mũi do virus (cảm cúm, chẩn đoán và điều trị)

Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.

Khàn tiếng và thở rít (bệnh lý thanh quản)

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Bệnh lý ống tai (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật ống tai thường gặp ở trẻ em hơn ở người lớn. Những chất rắn có thể được lấy bằng vòng hoặc móc ráy, cần cẩn thận để tránh đẩy dị vật vào trong.

Xem theo danh mục