Bệnh nấm mucor mũi nội sọ (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 6 - 9 - 2016

Triệu chứng khởi đầu có thể giống như viêm xoang nhiễm khuẩn, mặc dầu triệu chứng đau mặt thường dữ dội hơn. Khám niêm mạc mũi cố vẻ biểu hiện màu đen, và hoại tử chính ở cuốn dưới.

Mặc dù bệnh nấm mucor ít gặp nhưng bất kỳ thầy thuốc nào khám bệnh nhân ở tuyến cơ sở cũng phải có kiến thức về những triệu chứng và dấu hiệu của bệnh này.

Các loại nấm (Mucor, Absidia, Rhizopus) lan tràn nhanh qua các mạch máu và có thể đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện kịp thời. Những bệnh nhân bị mắc bệnh nấm mucor hầu hết là có các bệnh sau đái tháo đường hoặc tăng urê huyết. Bệnh cũng có thể xảy ra sau ghép tủy xương, ở những bệnh nhân bị u lympho, và trên những bệnh nhân bị ức chế miễn dịch vì những lý do khác. Gần đây có thông báo những trường hợp xảy ra trên bệnh nhân AIDS.

Triệu chứng khởi đầu có thể giống như viêm xoang nhiễm khuẩn, mặc dầu triệu chứng đau mặt thường dữ dội hơn. Khám niêm mạc mũi cố vẻ biểu hiện màu đen, và hoại tử chính ở cuốn dưới. Bệnh lý của thần kinh sọ và da vùng trước xoang sàng bị hoại tử đen là những dấu hiệu bệnh tiến triển.

Chẩn đoán sớm khi nghi ngờ đến bệnh, khi sinh thiết mũi hay xoang không thấy thành xương trong tổ chức, vì CT Scan hoặc MRI chỉ cho thấy sự thay đổi ở tổ chức mềm trong giai đoạn sớm nên sự can thiệp dựa vào các triệu chứng lâm sàng chứ không nên dựa vào biểu hiện trên Xquang của phá hủy xương và tất nhiên không đợi đến khi có sự thay đổi trong nội sọ.

Bệnh nấm mucor là cấp cứu nội khoa và ngoại khoa. Khi đã phát hiện được, cần chỉ định phẫu thuật lấy bỏ tổ chức hoại tử và truyền tĩnh mạch amphotericin B. Việc điều trị các bệnh kèm theo cũng hết sức quan trọng. Thậm chí với chẩn đoán sớm, điều trị đầy đủ kịp thời, nhưng tiên lượng vẫn dè dặt. Trong bệnh đái tháo đường, tỉ lệ tử vong khoảng 20%, ở bệnh nhân suy thận tỉ lệ tử vong là trên 50%.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh lý vòi nhĩ (vòi eustachi, chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng (chấn đoán và điều trị)

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Viêm họng và viêm amidan (chẩn đoán và điều trị)

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Viêm xoang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm xoang xảy ra khi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang. Các bệnh làm phù nề niêm mạc như viêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp.

Ù tai (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Liệt dây thanh âm (chẩn đoán và điều trị)

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Viêm lưỡi và đau lưỡi (chẩn đoán và điều trị)

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ (chẩn đoán và điều trị)

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong (chẩn đoán và điều trị)

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Bệnh lý tai giữa (chẩn đoán và điều trị)

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Nghe kém tiếp nhận (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Viêm mũi do virus (cảm cúm, chẩn đoán và điều trị)

Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.

Khàn tiếng và thở rít (bệnh lý thanh quản)

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Bệnh lý ống tai (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật ống tai thường gặp ở trẻ em hơn ở người lớn. Những chất rắn có thể được lấy bằng vòng hoặc móc ráy, cần cẩn thận để tránh đẩy dị vật vào trong.

Xem theo danh mục