Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 13 - 9 - 2016

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Miệng và họng

Viêm lợi và viêm miệng nặng thường là các dấu hiệu của bệnh nhân nhiễm HlV. Bệnh nấm candida là phổ cập và có thể đòi hỏi thời gian điều trị lâu hơn bình thường, liền 1 tuần với Fluconazol (100 mg/ngày) hoặc ketaconazol (200 - 400mg/ngày) để kiểm soát, với clotrimazol hoặc nystatin ít có hiệu quả. Các vết loét khổng lồ đã được thấy ở một số bệnh nhân. Bạch sản lông mọc ở bờ bên của lưỡi thường thấy sớm, nó có thể phát triển nhanh chóng và xuất hiện như vùng bạch sản mảnh mai với mặt gợn sóng hay "tang tóc" về tổ chức học, giả bạch sản và tế bào lõm kèm với ít hay không có tình trạng viêm.

Trong một công trình nghiên cứu thấy trong các trường hợp HIV dương tính với tổn thương ở miệng, bạch sản lông chiếm 13%. Mặc dù trong lâm sàng phản ứng theo với điều trị zidovudin hay acyclovir đã được nêu lên, kết quả của điều trị hay ngay cả sự cần thiết phải điều trị chỉ mới thực nghiệm. Ý nghỉa lớn hơn của sự xuất hiện bạch sản lông trong các bệnh nhân có huyết thanh dương tính là nó có thể liên quan dương tính với các biểu thị toàn thể tiếp theo của bệnh AIDS.

U sarcom Kaposi rất thường gặp ở khẩu cái cứng nhưng cũng có thể thấy ở bất cứ nơi nào của miệng và họng. Nó thường xuất hiện như một tổn thương màu tím nhợt, nổi lên, lành tính, không ảnh hưởng đến niêm mạc, tuy nhiên có thể sùi, ban đỏ và chảy máu. Tia xạ trị liệu có thể kiểm soát được khối u, viêm niêm mạc rất nhanh có thể thấy qua theo dõi điều trị tia xạ.

Ngoài u sarcom Kaposi, sự tăng lên của u lympho không phải Hodgkin cũng thấy trong bệnh AIDS.

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Cổ

Bệnh lý hạch tồn tại lâu nói chung cũng đặc biệt phổ biến trong nhiễm HIV. Trong bối cảnh này, hạch mềm, to dần có thể thể hiện nhiễm khuẩn thứ phát, u lympho hoặc các u khác. Chọc hút bằng kim nhỏ để nuôi cấy và xét nghiệm tế bào là bước chẩn đoán ban đầu tốt nhất. Mổ lấy u sinh thiết sẽ thường cần đến nếu nghi ngờ bệnh u hạt hoặc u lympho, qua kim nhỏ chọc hút, sinh thiết có thể có chẩn đoán nhiễm lao trên bệnh nhân có huyết thanh dương tính.

Các xoang mặt

Viêm xoang mặt thường gặp trong nhiễm HIV và các vi khuẩn rất khác nhau, nhưng các bệnh sinh được gặp ở các bệnh nhân không còn khả năng miễn dịch đầy đủ là thường gặp nhất. Với hút các xoang xuất tiết sớm để gửi làm xét nghiệm tế bào cũng như tìm nấm và virus, Legionella và nuôi cấy tìm vi khuẩn ái khí và yếm khí có thể thực hiện trong các trường hợp nặng đồng thời thử độ nhậy kháng sinh trên phiến đàn có thể giúp cho điều trị hiệu quả các trường hợp tái phát và nan y. Phẫu thuật chức năng nội soi nhằm dẫn lưu xoang thường được thực hiện. Guaiíenesin (600mg uống 4 lần 1 ngày) là chất tiêu nhày có thể giúp giảm nhẹ triệu chứng.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh lý vòi nhĩ (vòi eustachi, chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp mở vòi nhĩ quá mức hiếm gặp và khó điều trị. Bệnh nhân thường phàn nàn là cảm giác đầy trong tai và tự thính, bệnh nhân nghe thấy mình thở hoặc nói.

Bạch sản, hồng sản và ung thư miệng (chấn đoán và điều trị)

Bất cứ là hồng sản hoặc bạch sản lan rộng, các bác sĩ đều nên rạch sinh thiết hoặc làm tế bào tróc vì cần phải điều trị cho bệnh nhân.

Viêm họng và viêm amidan (chẩn đoán và điều trị)

Những căn nguyên phổ biến khác ngoài nhóm liên cầu β tan huyết nhóm A cần chuẩn đoán phân biệt đau họng do virus, Neisseria gonorrhoeae, Mycoplasma và Chlamydia Trachomatis.

Viêm xoang cấp (chẩn đoán và điều trị)

Viêm xoang xảy ra khi không dẫn lưu được mủ ứ đọng trong xoang. Các bệnh làm phù nề niêm mạc như viêm mũi do virus, viêm mũi dị ứng là những nguyên nhân thường gặp.

Ù tai (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Ù tai theo nhịp mạch phải được phân biệt với ù tai âm. Tiếng mạch đập thường do điếc dẫn truyền làm tăng sự truyền tiếng đập của động mạch cảnh rõ hơn.

Liệt dây thanh âm (chẩn đoán và điều trị)

Liệt dây thanh âm hai bên thường gây nên thở rít. Nếu khởi phát đột ngột, thở rít cả thì thở ra và hít vào, gây nên hẹp đường thở thì phải mở giáp móng cấp cứu.

Viêm lưỡi và đau lưỡi (chẩn đoán và điều trị)

Đôi khi không tìm được nguyên nhân gây đau lưỡi. Bệnh quanh răng không phải là yếu tố gây đau lưỡi.

Biểu hiện của nhiễm HIV tai mũi họng (chẩn đoán và điều trị)

Sự tăng lên của u carcinom tế bào vẩy cũng thấy ở nhóm người đồng tính luyến ái, có lẽ cũng liên quan đến nhiễm HIV.

Các bệnh biểu hiện có khối ở vùng cổ (chẩn đoán và điều trị)

Các chuỗi hạch cổ bình thường không thể sờ thấy. Các nhiễm khuẩn vùng họng, tuyến nước bọt và da vùng đầu thường gây hạch vùng cổ to và đau.

Chóng mặt do bệnh lý tai trong (chẩn đoán và điều trị)

Khám thực thể tối thiểu cho bệnh nhân chóng mặt gồm test Romberg, đánh giá dáng đi, quan sát có rung giật nhãn cầu hay không.

Bệnh lý tai giữa (chẩn đoán và điều trị)

Các loại vi khuẩn hay gặp ở cả người lớn và trẻ em là Streptococcus Pneumonia, Hemophilus Influenzae và S. pyogenes.

Nghe kém tiếp nhận (chẩn đoán và điều trị bệnh lý tai trong)

Những chất gây nhiễm độc tai có thể tác dụng lên cả hệ thính giác và tiền đình. Những thuốc gây nhiễm độc tai hay gặp nhất là salycylat, aminoglycosid, thuốc lợi tiểu.

Viêm mũi do virus (cảm cúm, chẩn đoán và điều trị)

Thuốc xịt mũi như oxymetazolin hoặc phenylephrin có tác dụng nhanh chóng, không nên dùng các thuốc này kéo dài vì sẽ gây nên xung huyết trở lại mà thường là nặng hơn lúc đầu.

Khàn tiếng và thở rít (bệnh lý thanh quản)

Giọng thô ráp khi sự xáo động tạo nên do sự bất thường của dây thanh âm như viêm thanh quản hoặc khối u dây thanh âm.

Bệnh lý ống tai (chẩn đoán và điều trị)

Dị vật ống tai thường gặp ở trẻ em hơn ở người lớn. Những chất rắn có thể được lấy bằng vòng hoặc móc ráy, cần cẩn thận để tránh đẩy dị vật vào trong.

Xem theo danh mục