Tình trạng tăng đông máu (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 18 - 11 - 2016

Ung thư thường có nguy cơ tăng của cả huyết khối động mạch và tĩnh mạch. Trong một vài trường hợp, đông máu rải rác nội mạch mức độ thấp hình như cũng có trách nhiệm.

Trong nhiều trường hợp, huyết khối liên quan đến những yếu tố tại chổ gây ứ trệ dòng máu hay tổn thương của một mạch máu nhỏ. Thí dụ thường gặp nhất là huyết khối tĩnh mạch sâu ở chân sau một nằm ngồi kéo dài trong một tư thế và huyết khối ở tĩnh mạch dài và chậu sau một phẫu thuật ở hông. Tuy nhiên, trong các trường hợp khác, một bệnh hệ thống làm tăng tổng quát nguy cơ bị huyết khối.

Bảng. Những nguyên nhân của tình trạng tăng đông

Mắc phải

Ung thư

Rối loạn viêm nhiễm: viêm loét dại tràng.

Các rối loạn tăng sinh tủy.

Sau mổ.

Estrogen, mang thai.

Yếu tổ chống đông do luput.

Giảm tiểu cầu do heparin.

Kháng thể kháng cardiolipin

Bẩm sinh

Thiếu antithrombin III.

Yếu tố VIII Leyden.

Thiếu protein C.

Thiếu protein S.

Rối loạn fibrinogen máu.

Plasmlnogen bất thường.

Ung thư thường có nguy cơ tăng của cả huyết khối động mạch và tĩnh mạch. Trong một vài trường hợp, đông máu rải rác nội mạch mức độ thấp hình như cũng có trách nhiệm. Trong những trường hợp hiếm hoi, một yếu tố tiền đông do ung thư kích thích hệ thống đông máu. Rối loạn bệnh tăng sinh tủy xương như bệng đa hồng càu tiên phát, tăng tiểu cầu tiên phát, đái huyết sắc tố kịch phát về đêm có một tần suất cao bị huyết khối gây ra bởi những bất thường về chất lượng tiểu cầu. Đối với những bệnh đa hồng cầu tiên phát và tăng tiểu cầu tiên phát, huyết khối là nguyên nhân chính của tỉ lệ mắc bệnh và tử vong. Huyết khối tĩnh mạch có thể xẩy ra ở những vị trí bất thường như hệ thống tĩnh mạch mạc treo, gan hay lách. Huyết khối động mạch cũng xẩy ra và có thể biểu hiện như tắc nghẽn mạch máu lớn (đột quỵ, nhồi máu cơ tim) hay mạch máu nhỏ với đau rát ở tay và chân.

Heparin là một nguyên không thường gặp nhưng quan trọng của tình trạng tăng đông. Heparin thường hay gây giảm tiểu cầu trong 10% các quá trình điều trị. Thường là giảm tiểu cầu nhẹ và tự khỏi một cách tự phát. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp có giảm tiểu cầu nặng. Trong những trường hợp này huyết khối động mạch rất hay xẩy ra như một biến chứng. Động mạch bị tắc thường là động mạch lớn như động mạch chậu hoặc có khi cả động mạch chủ. Trong hoàn cảnh này, bắt buộc phải ngừng dùng heparin vì tiếp tục dùng thuốc bao giờ cũng dẫn đến một hậu quả tàn khốc.

Một số những sai sót hóa sinh bẩm sinh cũng có thể có tình trạng tăng đông. Thường là có tiền sử gia đình. Huyết khối thường đa số ở tĩnh mạch và có thể ở các tĩnh mạch lớn ở bụng. Huyết khối thường xẩy ra ở những người trưởng thành trẻ hơn là trẻ em và thường tăng lên do những yếu tố như chấn thương háy thai nghén. Thiếu antithrombin III là rất hay thấy trong các rối loạn này. Chẩn đoán có được bằng cách chứng minh trị giá các yếu tố trong huyết tương bị giảm. Rối loạn fibrinogen máu được chẩn đoán bằng thời giah reptilase kéo dài.

Hội chứng hoại tử da do warfarin có thể xẩy ra ở những bệnh nhân thiếu protein C không được chẩn đoán. Protein C là phụ thuộc vitamin K và có nửa đời sống ngắn hơn các protein đông máu. Warfarin, do tạo ra tình trạng phụ thuộc vitamin K, sẽ nhất thời làm suy giảm protein C trước khi dẫn đến hiện tượng chống đông. Suốt trong qúa trình tăng đông, do tình trạng thiếu protein C không được chống đỡ, huyết khối các mạch máu ở da có thể dẫn đến nhồi máu và hoại tử. Hội chứng có thể được dự phòng bằng sử dụng heparin trong 5 - 7 ngày cho đến khi warfarin gây được chống đông.

Điều trị

Nếu một bệnh nhân được thừa nhận là có tăng nguy cơ huyết khối, việc điều trị dự phòng có hiệu lực thường là có giá trị. Trước khi phẫu thuật, heparin liều nhỏ 500 đơn vị mỗi 8 - 12 giờ có thể giúp ích để giảm nguy cơ huyết khối quanh giai đoạn phẫu thuật. Tình trạng tăng đông trong ung thư có thể có lợi khi điều trị bằng heparin 10.000 đơn vị tiêm dưới da mỗi 12 giờ. Heparin trọng lượng phân tử thấp là chất có nhiều tiện lợi hơn mà hiệu quả tương đương, ít đòi hỏi các theo dõi labô hơn. Warfarin, thường không có hiệu quả trong dự phòng huyết khối trong trường hợp này, có vẻ như do hiện tượng đông máu rải rác nội mạch ở mức độ thấp. Ở những bệnh nhân bị bệnh tăng sinh tủy xương mà có triệu chứng huyết khối, điều trị chống tiểu cầu có thể tốt. Tuy nhiên, việc điều trị như vậy không được áp dụng bừa bãi vì những bệnh nhân này thường có tăng nguy cơ chảy máu. Đối với những bệnh nhân bị chứng đau đỏ đầu chi (erythromelalgia) (đau đỏ và bỏng rát ở cánh tay) dùng aspirin 325 mg hàng ngày thường luôn có hiệu quả.

Đối với những bệnh nhân có những thiếu sót hóa sinh bẩm sinh như thiếu antithrombin III hay thiếu các protein C và S phụ thuộc vitamin K thì dùng warfarin có hiệu quả và có thể phải cho suốt đời. Những thành viên trong gia đình phải được sàng lọc về sự hiện diện của những thiếu sót như vậy để ghi nhận được và kịp thời hành động đối với những nguy cơ huyết khối tăng lên.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh bạch cầu cấp (chẩn đoán và điều trị)

Thăm khám thấy bệnh nhân xanh xao, xuất huyết dưới da, ban xuất huyết và nhiều dấu hiệu khác của nhiễm khuẩn. Viêm miệng và phì đại lợi có thể thấy ở những bệnh nhân bị bệnh bạch cầu thế bạch cầu đơn nhân.

Giảm bạch cầu trung tính (chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp hội chứng Felty dẫn đến nhiễm khuẩn liên tiếp thì cắt lách thường làm giảm loét chân và làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn nhưng bất cứ điều trị thế nào thì đều không tăng số lượng bạch cầu trung tính.

Thiếu máu thiếu sắt (chẩn đoán và điều trị)

Cũng có thể bị thiếu sắt vì chế độ ăn thiếu thốn nhưng điều này hiếm có ở người trưởng thành. Giảm hấp thụ sắt có thể là nguyên nhân thiếu sắt và thường do phẫu thuật dạ dày.

Các thể bệnh Thalassemia (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng α thalassemia thường gặp trước hết ở những người từ Đông Nam chẩu Ấ, Trung Quốc ít gặp hơn ở những người da đen bình thường, người trưởng thành có 4 mẫu chuỗi α globin.

Thiếu máu huyết tán (chẩn đoán và điều trị)

Thiếu máu huyết tán là một nhóm bệnh trong đó đời sống hồng cầu bị giảm ngắn, hoặc từng thời kì hoặc liên tục. Tủy xương có khả năng tăng sản xuất hồng cầu lên gấp 8 lần để đáp ứng với đời sống hồng cầu bị giảm.

Hội chứng tán huyết tăng ure huyết (rối loạn cầm máu)

Bệnh nhân đến với thiếu máu, chảy máu hay suy thận. Suy thận có thể có hoặc không có thiểu niệu. Trái với xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối, không có những biểu hiện thần kinh nào ngoài những biểu hiện do tình trạng urê huyết cao.

Thiếu vitamin K (chẩn đoán và điều trị)

Thời gian prothrombin kéo dài đến mức lớn hơn thời gian thromboplastin một phần và trong thiếu vitamin K nhẹ, chỉ thời gian prothrombin là bị ảnh hưởng. Trị giá fibrinogen, thời gian thrombin và số lượng tiểu cầu đều không bị ảnh hưởng. 

Thiếu vitamin B12 (chẩn đoán và điều trị)

Vitamin B12 có trong mọi thực phẩm nguồn gốc động vật nên chế độ ăn thiếu vitamin B12 là rất hiếm và chỉ gặp ở những người ăn chay, hoàn toàn ăn rau và tránh mọi thực phẩm nguồn gốc động vật như thịt, cá.

Đái huyết sắc tố kịch phát về đêm (chẩn đoán và điều trị)

Thiếu máu ở những mức độ nặng khác nhau và có thể có hoặc không có tăng hồng cầu lưới. Những bất thường của kính phết máu không giúp cho chẩn đoán và có thể thấy các hồng cầu hình thoi to.

Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (rối loạn cầm máu)

Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối là một hội chứng ít gặp đặc trưng bởi bộ năm triệu chứng của thiếu máu huyết tán bệnh động mạch nhỏ, giảm tiểu cầu, những bất thường về thần kinh, sốt và những bất thường của thận.

Hội chứng loạn sản tủy (chẩn đoán và điều trị)

Loạn sản tủy bao gồm nhiều hội chứng không thuần nhất. Những loạn sản tủy không có tăng nguyên bào trong tủy được gọi là "thiếu máu kháng điều trị" có hoặc không có hồng cầu non chứa sắt.

Bệnh Hodgkin (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh có sự phân phối theo hai nhóm tuổi: đỉnh thứ nhất ở tuổi 20 và đỉnh thứ hai trên 50 tuổi. Đa số bệnh nhân đến vì một khối không đau, thường là ở cổ. Những dấu hiệu khác yêu cầu sự chú ý về y tế là các triệu chứng thể trạng như sốt.

Bệnh bạch cầu thể tủy mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh tiến triển thường có sốt mà không có nhiễm khuẩn, đau xương, lách to. Trong các cơn tăng nguyên bào, bệnh nhân có thể bị chẩy máu và nhiễm khuẩn do suy tủy xương.

U lympho không Hodgkin (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân u lympho không đau thường có hạch to, đau và khu trú hoặc phát triển rộng. Các hạch bạch huyết to có thể ở sau phúc mạc, mạc treo và hố chậu.

Bệnh bạch cầu thể lympho mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Những bệnh tăng sinh lympho khác như macroglobulin máu Waldenstrom, bệnh bạch cầu tế bào tóc hay u lympho ở giai đoạn bệnh bạch cầu được phân biệt trên cơ sở hình thái các lympho bào lưu hành và tủy xương.

Xem theo danh mục