Giảm bạch cầu trung tính (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 14 - 11 - 2016

Trường hợp hội chứng Felty dẫn đến nhiễm khuẩn liên tiếp thì cắt lách thường làm giảm loét chân và làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn nhưng bất cứ điều trị thế nào thì đều không tăng số lượng bạch cầu trung tính.

Có giảm bạch cầu khi số lượng trung tính xuống dưới 1500 µL. Tuy nhiên, những người da đen và các nhóm dân tộc đặc biệt khác bình thường có số lượng trung tính thấp là 1200 µL. Bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính dễ bị nhiễm khuẩn bởi các vi khuẩn gram (-) và (+) và bởi nấm. Nguy cơ nhiễm khuẩn có liên quan đến mức độ nặng của giảm bạch cầu trung tính. Bệnh nhân bị "giảm bạch cầu trung tính lành tính mạn" không bị nhiễm khuẩn trong nhiều năm mặc dù mức trung tính rất thấp. Nhiều bệnh của tủy xương và các hoàn cảnh không phải tủy xương có thể gây giảm bạch cầu trùng tính (bảng).

Bảng. Nguyên nhân giảm bạch cầu trung tính

Bệnh tủy xương

Thiếu máu suy tủy.

Suy tủy bạch cầu đơn thuần.

Bẩm sinh (hiếm).

Giảm trung tính chu kỳ.

Thuốc: các sulfonamid, chlorpromazin, procainamid, penicilin, cephalosporin, cimetidin, methimazol, phenytoin, chlorpropamid.

Lành tính mạn.

Bệnh ngoại biên

Cường lách.

Nhiễm khuẩn huyết.

Miễn dịch.

Hội chứng Felty.

Tất cả những nguyên nhân của bệnh thiếu máu suy tủy và giảm ba dòng ngoại biên có thể gây giảm bạch cầu trung tính. Giảm bạch cầu trung tính đơn độc thường do một phản ứng đáp ứng với thuốc và vô bạch cầu hạt (hoàn toàn không có bạch cầu trung tính ở máu ngoại biên) thường phần lớn bao giờ cũng do phản ứng thuốc hay tiếp xúc với một số hóa chất (thí dụ thuốc trừ sâu). Trong những trường hợp này, khám tủy xương cho thấy vắng bóng thực sự các tiền thân dòng tủy, các tế bào dòng khác không bị rối loạn. Suy tủy dòng bạch cầu đơn thuần là một hoàn cảnh hiếm, trong đó một tự kháng thể được tạo ra chống lại các tiền thân dòng tủy. Hội chứng Felty, giảm bạch cầu trung tính phối hợp với huyết thanh dương tính viêm khớp dạng thấp là nguyên nhân khác. Giảm bạch cầu trung tính trong một tủy xương bình thường có thể do sự hủy hoại ngoại biên có tính miễn dịch, nhiễm khuẩn hay cường lách.

Phát hiện lâm sàng

Giảm bạch cầu trung tính dẫn đến viêm miệng và nhiễm khuẩn. Thường là nhiễm khuẩn kị khí gram (-) hay gram (+) hoặc nhiễm nấm như candida hay aspergillus. Hay gặp nhất là nhiễm trùng huyết, viêm tế bào và viêm phổi. Trường hợp giảm bạch càu nặng, có thể không có những dấu hiệu thông thường của đáp ứng với viêm. Dù sao, sốt ở những bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính phải luôn luôn được coi là có nguồn gốc nhiễm khuẩn.

Điều trị

Phải ngừng các thuốc có tiềm năng gây giảm hạch cầu trung tính . Điều trị nhiễm khuẩn bằng phối hợp nhiều kháng sinh phổ rộng nhưng cần đặc biệt chú ý là sẽ phá hủy các vi khuẩn đường ruột gram (-). Cephalosporin thế hệ ba như ceftazidim, 2 g tiêm tĩnh mạch mỗi 8 giờ, có hiệu quả trong trị liệu đơn chất, tránh không dùng aminoglycosid.

Trường hợp hội chứng Felty dẫn đến nhiễm khuẩn liên tiếp thì cắt lách thường làm giảm loét chân và làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn nhưng bất cứ điều trị thế nào thì đều không tăng số lượng bạch cầu trung tính.

Tiên lượng của những bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính phụ thuộc vào nguyên nhân. Đa số bệnh nhân bị mất bạch cầu do thuốc có thể được điều trị bằng kháng sinh phổ rộng và được bảò vệ hoàn toàn. Yếu tố tăng trưởng tủy G - CSF (filgrastim) và GM - CSF (sagramostim) có thể có ích trong việc thu ngắn thời gian điều trị bằng hóa chất và thường có thể điều chỉnh giảm bạch cầu do các nguyên nhân khác như các thuốc ức chế tủy.


Bài xem nhiều nhất

Bệnh bạch cầu cấp (chẩn đoán và điều trị)

Thăm khám thấy bệnh nhân xanh xao, xuất huyết dưới da, ban xuất huyết và nhiều dấu hiệu khác của nhiễm khuẩn. Viêm miệng và phì đại lợi có thể thấy ở những bệnh nhân bị bệnh bạch cầu thế bạch cầu đơn nhân.

Giảm bạch cầu trung tính (chẩn đoán và điều trị)

Trường hợp hội chứng Felty dẫn đến nhiễm khuẩn liên tiếp thì cắt lách thường làm giảm loét chân và làm giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn nhưng bất cứ điều trị thế nào thì đều không tăng số lượng bạch cầu trung tính.

Thiếu máu thiếu sắt (chẩn đoán và điều trị)

Cũng có thể bị thiếu sắt vì chế độ ăn thiếu thốn nhưng điều này hiếm có ở người trưởng thành. Giảm hấp thụ sắt có thể là nguyên nhân thiếu sắt và thường do phẫu thuật dạ dày.

Các thể bệnh Thalassemia (chẩn đoán và điều trị)

Hội chứng α thalassemia thường gặp trước hết ở những người từ Đông Nam chẩu Ấ, Trung Quốc ít gặp hơn ở những người da đen bình thường, người trưởng thành có 4 mẫu chuỗi α globin.

Thiếu máu huyết tán (chẩn đoán và điều trị)

Thiếu máu huyết tán là một nhóm bệnh trong đó đời sống hồng cầu bị giảm ngắn, hoặc từng thời kì hoặc liên tục. Tủy xương có khả năng tăng sản xuất hồng cầu lên gấp 8 lần để đáp ứng với đời sống hồng cầu bị giảm.

Hội chứng tán huyết tăng ure huyết (rối loạn cầm máu)

Bệnh nhân đến với thiếu máu, chảy máu hay suy thận. Suy thận có thể có hoặc không có thiểu niệu. Trái với xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối, không có những biểu hiện thần kinh nào ngoài những biểu hiện do tình trạng urê huyết cao.

Thiếu vitamin K (chẩn đoán và điều trị)

Thời gian prothrombin kéo dài đến mức lớn hơn thời gian thromboplastin một phần và trong thiếu vitamin K nhẹ, chỉ thời gian prothrombin là bị ảnh hưởng. Trị giá fibrinogen, thời gian thrombin và số lượng tiểu cầu đều không bị ảnh hưởng. 

Thiếu vitamin B12 (chẩn đoán và điều trị)

Vitamin B12 có trong mọi thực phẩm nguồn gốc động vật nên chế độ ăn thiếu vitamin B12 là rất hiếm và chỉ gặp ở những người ăn chay, hoàn toàn ăn rau và tránh mọi thực phẩm nguồn gốc động vật như thịt, cá.

Đái huyết sắc tố kịch phát về đêm (chẩn đoán và điều trị)

Thiếu máu ở những mức độ nặng khác nhau và có thể có hoặc không có tăng hồng cầu lưới. Những bất thường của kính phết máu không giúp cho chẩn đoán và có thể thấy các hồng cầu hình thoi to.

Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (rối loạn cầm máu)

Ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối là một hội chứng ít gặp đặc trưng bởi bộ năm triệu chứng của thiếu máu huyết tán bệnh động mạch nhỏ, giảm tiểu cầu, những bất thường về thần kinh, sốt và những bất thường của thận.

Bệnh Hodgkin (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh có sự phân phối theo hai nhóm tuổi: đỉnh thứ nhất ở tuổi 20 và đỉnh thứ hai trên 50 tuổi. Đa số bệnh nhân đến vì một khối không đau, thường là ở cổ. Những dấu hiệu khác yêu cầu sự chú ý về y tế là các triệu chứng thể trạng như sốt.

Hội chứng loạn sản tủy (chẩn đoán và điều trị)

Loạn sản tủy bao gồm nhiều hội chứng không thuần nhất. Những loạn sản tủy không có tăng nguyên bào trong tủy được gọi là "thiếu máu kháng điều trị" có hoặc không có hồng cầu non chứa sắt.

U lympho không Hodgkin (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân u lympho không đau thường có hạch to, đau và khu trú hoặc phát triển rộng. Các hạch bạch huyết to có thể ở sau phúc mạc, mạc treo và hố chậu.

Bệnh bạch cầu thể tủy mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh tiến triển thường có sốt mà không có nhiễm khuẩn, đau xương, lách to. Trong các cơn tăng nguyên bào, bệnh nhân có thể bị chẩy máu và nhiễm khuẩn do suy tủy xương.

Bệnh bạch cầu thể lympho mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Những bệnh tăng sinh lympho khác như macroglobulin máu Waldenstrom, bệnh bạch cầu tế bào tóc hay u lympho ở giai đoạn bệnh bạch cầu được phân biệt trên cơ sở hình thái các lympho bào lưu hành và tủy xương.

Xem theo danh mục