Ngứa (chẩn đoán và điều trị)

Ngày: 5 - 7 - 2016

Có nguyên nhân thông thường nhất của bệnh ngứa liên kết với bệnh toàn thân là tăng ure huyết liên quan đến bệnh tán máu.

Ngứa là một cảm giác khó chịu làm người ta có nhu cầu gãi. Đó là xung cảm giác sơ cấp của các sợi C không có myelin trong bó gai đồi trước. Nó được điều khiển bởi các nhân tố trung tâm, bao gồm các nhân tố thuộc vỏ não. Không phải trong tất cả các trường hợp ngứa đều có chất trung gian histamin, mặc dù một số chất trung gian như bradykinin, neurotensin, secretin, và hợp chất P có giải phóng histamin.

Tuy hầu hết các trường họp ngứa toàn thân đều có thể do nguyên nhân da khô, dù là bản chất, do các điều kiện khí hậu hay do tình trạng bệnh, vẫn nhiều nguyên nhân khác nữa như ghẻ, viêm da dạng herpes, viêm da dị ứng, ngứa âm hộ và hậu môn, rôm, côn trùng cắn, nhiễm chấy rận, viêm da tiếp xúc, phản ứng thuốc, mày đay, mày đay do thai nghén, vảy nến, liken phẳng, liken thường mạn, viêm da tróc vảy, viêm nang, cháy nắng, dạng pemphigus bọng nước và viêm da sợi thủy tinh.

Đốì với ngứa kéo dài không do bệnh da cần phải nhanh chóng tìm ra các nguyên nhân toàn thân. Có nguyên nhân thông thường nhất của bệnh ngứa liên kết với bệnh toàn thân là tăng ure huyết liên quan đến bệnh tán máu. Cả hai nguyên nhân này và bệnh tắc mật đều có thể điều trị bằng chiếu tia cực tím B. Gần đây, người ta thấy naloxon có tác dụng làm giảm chứng ngứa do ứ mật. Các rối loạn nội tiết như chứng tăng hoặc giảm năng tuyến giáp, rối loạn tâm lý, u bạch huyết, ung thư máu và các rối loạn ác tính bên trong, chứng thiếu máu thiếu sắt, và các rối loạn thần kinh nào đó cũng có thể có biểu hiện ngứa.

Ngứa hay rát xuất hiện ở mặt, ở da đầu, ở bộ phận sinh dục có thể là những biểu hiện đầu tiên của trầm cảm và có thể chữa trị bặng các thuốc chống trầm cảm như amitriptylin, imipramin, hoặc doxepin.

Loại bỏ các tác nhân bên ngoài và các tác nhân kích thích thường có tác dụng hoàn toàn làm giảm ngứa. Ngứa kèm theo các bệnh da đặc trưng sẽ giảm đi khi kiểm soát được bệnh. Ngứa tự phát và ngứa kèm theo bệnh nghiêm trọng bên trong cơ thể không đáp ứng với bất kỳ liệu pháp nào.


Bài xem nhiều nhất

Rối loạn sắc tố da (chẩn đoán và điều trị)

Trước hết cần xác định thế nào là tăng sắc tố và giảm sắc tố. Mỗi loại có thể là tiên phát hay thứ phát sau một bệnh khác.

Hồng ban nút (chẩn đoán và điều trị)

Nghiên cứu mô cho thấy viêm giữa các tế bào dưới da là đặc trưng của hồng ban nút. Mặt khác, phát hiện đó cũng thấy ở các bệnh có liên đới khác.

Hồng ban đa dạng (chẩn đoán và điều trị)

Hồng ban đa dạng là một bệnh da cấp tính đa hình thái do nhiều nguyên nhân gây nên hoặc do một nguyên nhân không xác định.

Viêm da bong vảy (chứng đỏ da tróc vảy, chẩn đoán và điều trị)

Các triệu chứng có thể gồm ngứa, mệt, ớn lạnh, sốt và sút cân. Rét run có thể nổi bật. Bong vảy da có thể toàn thân hoặc rộng và đôi khi cả rụng lông tóc và móng.

Bệnh Pemphigus (chẩn đoán và điều trị)

Các tổn thương thường xuất hiện đầu tiên ở các màng niêm mạc miệng, và những tổn thương này nhanh chóng trở nên bị trợt da.

Bệnh vảy nến (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da cấp hoặc mạn, hay gặp, lành tính, có tính chất di truyền. Có một số yếu tố trung gian gây bệnh như polyamine, protease, CAMP, các yếu tố phát triển như TGFa và leukotrien.

Bệnh Zona (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh zona là một bệnh da có bọng nước cấp tính do virus mà virus có hình thái giống như virus thủy đậu. Bệnh thường gặp ở người lớn. Hầu hết bệnh nhân chỉ bị zona một lần.

Viêm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Điều trị bằng cách luôn giữ cho vùng kẽ đó sạch, khô, và đắp các dung dịch mang lại hiệu quả cao. Nếu tìm thấy bào tử nấm hoặc vi khuẩn, thì phải bôi imidazol chống nấm dạng dung dịch, hoặc bột.

Viêm da dị ứng tiếp xúc (chẩn đoán và điều trị)

Giai đoạn cấp tính thương tổn đặc trưng bởi các mụn nước nhỏ li ti, chảy nước và đóng vảy, khi thương tổn xẹp hoặc thương tổn mạn tính sẽ biểu hiện bằng các vảy da, đỏ da và có thể có dày da.

Luput ban đỏ dạng đĩa mạn tính (chẩn đoán và điều trị)

Khi ANA dương tính với hiệu giá cao, hoặc hình ảnh lâm sàng gợi có thương tổn nội tạng, có kháng thể chống ADN chuỗi kép và giảm bổ thể trong máu sẽ nghĩ tới luput ban đỏ hệ thống.

Nguyên tắc điều trị bệnh ngoài da

Các thuốc bôi kháng sinh, neomycin là loại thuốc có khả năng gây cảm ứng lớn nhất. Dephenhydramin, Benzocain và Ethylenediamin là những chất có trong thành phần của của thuốc bôi cũng dễ gây dị ứng.

Tổ đỉa (chẩn đoán và điều trị)

Các mụn nước trong, nhỏ, nằm rải rác ở hai bên của các ngón tay và ở lòng bàn tay, lòng bàn chân. Trông giống như hạt gạo tròn trong bột sắn. Các thương tổn này có thể rất ngứa.

Nấm kẽ (chẩn đoán và điều trị)

Thương tổn nấm kẽ khu trú hạn chế ở bẹn và kẽ mông và thông thường thương tổn tiến triển âm ỉ hơn nấm thân và nấm hình vòng. Bình thường ít thương tổn.

Viêm da dạng herpes (chẩn đoán và điều trị)

Bệnh nhân có viêm ruột nhạy cảm với gluten, nhưng đôi với phần lớn bệnh nhân không có biểu hiện lâm sàng.

Chàm thể tạng (bệnh da có vảy, chẩn đoán và điều trị)

Chàm thể tạng có hình thái và tỉ lệ khác nhau ở lứa tuổi khác nhau, vì hầu hết bệnh nhân chàm thể tạng có da khô và bong vảy ở một vài thời điểm nên bệnh này được thảo luận ở bệnh da có vảy.

Xem theo danh mục