Chẩn đoán và điều trị - Thông tin y học - Thuốc biệt dược

Hình ảnh X quang đại tràng

Khung đại tràng giống một giải Ruban có bờ nhiều ngấn đối xứng. Ở giữa 2 nếp thắt có một ngấn Haustra cách nhau 1cm, sâu 0,5cm, nối các ngấn Haustra có 3 giải niêm mạc chạy dọc.

Kỹ thuật khám đại tràng

Chụp một phim bụng không chuẩn bị tư thế nằm ngữa, sau đó chuẩn bị một bock barit ấm đặt cao hơn 40cm so với mặt bàn, luồn canul có nhánh vào hậu môn. Cho barit vào dần, theo dõi dưới màn huỳnh quang hoặc tăng sáng truyền hình, để tìm tư thế thích hợp, giảm thiểu phim chụp, giảm liều nhiễm xạ cho cả thầy thuốc và bệnh nhân.

Hình ảnh đại tràng bình thường

Chiều dài của toàn bộ khung đại tràng từ 1,2 – 1,5m. gồm:

Manh tràng: là một túi cao 6cm, di động trong khoang phúc mạc, nằm trong hố hông phải. Đoạn gần cuối manh tràng ở mặt trong có một lổ của ruột thừa, trên lổ ruột thừa 2cm là lổ hồi tràng, được khép kín bằng van Bauhin.

Đại tràng lên: cố định bởi mạc treo đại tràng phải, dài 8 – 15cm cho đến mặt dưới gan gấp lại thành góc hơi nhọn, gọi là góc phải hay góc gan.

Đại tràng ngang: dài 40 – 70cm, tạo ra một quai lõm ra phía sau và lên cao gồm 2 phần, phần phải ngắn, cố định; phần trái dài di động. Nhờ mạc treo đại tràng ngang trải dài đến tận góc lách, sâu hơn và cao hơn so với góc gan. Góc lách rất nhọn, cố định bởi dây chằng hoành đại tràng, định vị trong mặt phẳng dọc.

Đại tràng xuống gồm hai phần:

Đại tràng lưng chậu dài khoảng 20cm, từ góc lách đến eo trên, có mạc nối dính vào mặt sau.

Đại tràng chậu hoặc sigma, di động, mặt rộng của mạc treo tạo thành cuộn ở trong hố hông trái và chậu.

Trực tràng: định vị ở mặt trước của đốt sống S3 cho đến hậu môn, gồm hai phần:

Phần chậu: chếch xuống dưới và ra trước: bóng trực tràng.

Phần tầng sinh môn: chếch xuống dưới và ra sau. Ống hậu môn dài và rộng khoảng 3cm, giới hạn bởi một ngấn gọi là van Houston..

Khung đại tràng giống một giải Ruban có bờ nhiều ngấn đối xứng. Ở giữa 2 nếp thắt có một ngấn Haustra cách nhau 1cm, sâu 0,5cm, nối các ngấn Haustra có 3 giải niêm mạc chạy dọc. Các ngấn Hautra nhiều và sâu ở bên phải và đại tràng ngang (hình đàn gió) hơn bên trái và sigma.

Hình ảnh bất thường ở đại tràng

c dấu hiệu cơ năng:

Các ngấn Hautra (ngấn ngang) của đại tràng có thể:

Giảm về số lượng hay độ sâu dẫn đến hình ống thẳng trên một hay nhiều đoạn. Nếu hình ảnh này tồn tại thường xuyên phản ánh tình trạng viêm nhiễm của đại tràng,

 Tăng số lượng ngấn và chiều sâu đó là hình chồng đĩa tức là hình ảnh rối loạn co thắt.

Trương lực đại tràng: Tăng trương lực làm cho khung đại tràng hẹp và ngắn lại; đại tràng rộng và dài khi giảm trương lực.

Vận động của đại tràng: Thể tích bình thường của đại tràng khoảng 1 – 1,5 lít, đó là dung tích mà khi thụt vào đại tràng không phản ứng lại. Trong trường hợp đại tràng dễ bị kích thích hoặc tăng vận động thường có xu hướng chống lại sự thụt nước vào bằng cách co thắt từng đoạn và bài xuất sớm.

Các tổn thương thực thể:

Những bất thường về kích thước: Dài đại tràng có thể là do thể tạng, bấm sinh. Ngược lại ngắn đại tràng thường do mắc phải như viêm mạn.

Những bất thường ở bờ và bề mặt:

Bờ mờ: không sắc nét là biểu hiện của viêm niêm mạc đại tràng, bề mặt bị phủ một lớp nhầy hoặc mủ máu.

Bờ nham nhở hình gai hoặc hình “cúc áo” là biểu hiện của những ổ loét nhỏ nông hoặc sâu.

 Hình khuyết của các khối u lành tính có bờ tròn đều, khá thường xuyên trên nhiều phim, có hình dạng thay đổi, chổ bám, có cuống hoặc không: u tuyến, u mỡ, políp, myome, schwanome, hoặc có bờ không đều.u nhung mao, u sùi.

Hình khuyết hẹp của các khối u ác tính có bờ nham nhỡ, nhiễm cứng, không thay đổi qua các tư thế chụp, hình hẹp lệch trục hoặc hẹp đột ngột có góc giới hạn, hoặc đáy của hình khuyết có thể có hình ổ loét dạng thấu kính.

Hình khuyết giả: là những hình khuyết không tồn tại thường xuyên, mất đi khi thay đổi tư thế hoặc ép nắn: đó là những hình chèn ép từ bên ngoài vào hạơc ổ đọng thức ăn, những cục máu đông.

Các bệnh lý đại tràng thường gặp

Dị dạng do xoay dở khung đại tràng:

Về phôi thai học, vào tuần thứ 5 quai ruột nguyên thủy hình chữ U nằm ngoài ổ bụng theo mặt phẳng trước sau trong cuống rốn, đến tuần thứ 9 thì quay ngược chiều kim đồng hồ 900, đưa mầm manh tràng và đại tràng lên về phía trái, mầm tiểu tràng qua phải. Trước tuần thứ 12 thì quai ruột quay thêm 1800 nữa, đưa mầm manh tràng và đại tràng lên qua phải và mầm tiểu tràng qua phía trái.

Nếu trong quá trình xoay này, các quai ruột chỉ dùng lại ở giai đoạn 1 thì trên phim ta sẽ thấy toàn bộ các quai tiểu tràng ở bên phải ổ bụng, đai tràng lên và đai tràng ngang xếp thành quai đôi ở bên hạ sườn trái. Đây là bệnh lý mạc treo chung.

Nếu quai ruột quay dở trong giai đoạn 2 thì manh tràng nằm dưới gan và dính với thành bên ổ bụng bởi dây chằng Ladd. Dây chằng này sẽ đè lên tá tràng gây hẹp tắc tá tràng dưới bóng Vater ở trẻ sơ sinh. Lúc này chụp bụng không chuẩn bị sẽ thấy 2 mức hơi nước lệch nhau: một ở trên của dạ dày, một ở dưới của tá tràng. Nếu chụp khung đại tràng có cản quang sẽ thấy manh tràng ở dưới gan.

Phình to đại tràng:

Phình to đại tràng bẩm sinh: Còn gọi là bệnh Hirschprung. Chẩn đoán bằng chụp đại tràng có ba rít, xác định được đoạn hẹp có hay không, dài hay ngắn.

Phình to đại tràng thứ phát: Gặp ở người lớn hoặc thiếu niên, nguyên nhân chưa rõ. Trên hình ảnh ta thấy đại tràng sigma giãn rất to, thụt tháo sạch đại tràng trở lại bình thường, vài ngày sau sẽ giãn to trở lại.

c khối u lành tính của đại tràng:

Gồm u tuyến, u mỡ, cơ, xơ, thần kinh (schwannome)… Trên hình ảnh là các hình khuyết sáng tròn hoặc bầu dục, bờ đều, rõ nét. Pô líp thường khu trú ở vùng trực tràng sigma có thể đơn độc hoặc thành từng đám. Chụp đại tràng đối quang kép, đó là những hình khuyết sáng rãi rác hoặc tập trung như hình chùm nho, có viền ba rít bao quanh.

Ung thư đại tràng:

Thường là k biểu mô tuyến hay gặp ở trực tràng, đại tràng sigma (70-75%), trên hình ảnh ta có thể thấy như sau:

Thể sùi vào lòng: biểu hiện là các hình khuyết bờ không đều, rõ nét, đáy rộng và cứng.

Thể thâm nhiễm: tổ chức K nhiễm cứng nham nhỡ, hẹp, lệch trục đột ngột.

Thể loét: là hình ảnh sớm của K tuyến (adenocarcinoma) biểu hiện là hình loét thấu kính trên thành đại tràng.

Viêm đại tràng:

Có nhiều nguyên nhân gây viêm khác nhau, nhưng trên hình ảnh ta có thể thấy ba loại sau:

Đại tràng hình ống: không có các ngấn Haustra, đường bờ mờ không sắc nét, bề mặt có khi có các nếp dọc.

Ổ loét: rãi rác trên thành đại tràng có những hình gai, hình lồi hoặc nham nhỡ không đều kiểu răng cưa, ngấm thuốc chỗ đậm chỗ nhạt.

Giả pô líp: trên bề mặt của thành đại tràng có những hình khuyết có khi như hình giun, hình ngón tay, kích thước khác nhau. Là biểu hiện của giai đoạn viêm mạn có xơ, sẹo hóa.

Túi thừa đại tràng:

Hay gặp ở châu Âu, Việt nam ít gặp hơn. Người già hay gặp hơn trẻ, đại tràng sigma hay gặp hơn nơi khác. Các túi thừa là những hình lồi có ổ đọng thuốc, kích thước thay đổi, hay có biến chứng như viêm, áp xe hóa, thủng, xuất huyết…


Hình: Ngấn đại tràng.

(1. bình thường; 2. hình túi thừa; hình ống (mất ngấn); 4. hình chồng đĩa).


Hình: Các loại tổn thương thành đại tràng.

(1. Hẹp [a. do u; b. do viêm; 3. do chèn ép].
2. Cắt cụt [a. do u; 2. do lồng; 3. do xoắn.
3. Hình khuyết lành tính [a. không cuống; b. có cuống].
4. hình thấu kính; loét lành tính.
5. Hình cúc áo và dò dưới niêm.
6. Hình gai co kéo do tiếp xúc tổ chức viêm.)
 

cac-tin-khac