Các dạng sóng Q của điện tâm đồ

(Trà My - Phương Phương) Trong những trường hợp bình thường, sóng Q không được nhìn thấy của các chuyển đạo bên phải (V1 - 3).

Một sóng Q bất kỳ là sóng có độ lệch âm đi trước một sóng R.


Sóng Q bình thường

Sóng Q bình thường trong chuyển đạo V6

Nguồn gốc của sóng Q

Sóng Q đại diện cho khử cực (depolarisation) bình thường từ trái sang phải của vách ngăn

Sóng Q "vách ngăn" nhỏ thường thấy của các chuyển đạo bên trái (I, aVL, V5 và V6).

Sóng Q trong các chuyển đạo khác nhau

Sóng Q nhỏ là bình thường trong hầu hết các chuyển đạo.

Sóng Q sâu hơn (> 2 mm) có thể được nhìn thấy trong DIII và aVR như một biến thể bình thường.

Trong những trường hợp bình thường, sóng Q không được nhìn thấy của các chuyển đạo bên phải (V1 - 3).

Sóng Q bệnh lý

Sóng Q được xem là bệnh lý nếu:

> 40 ms (1 mm) rộng.

> 2 mm sâu.

> 25% độ sâu của QRS.

Thấy trong chuyển đạo V1 - 3.

Sóng Q bệnh lý thường chỉ ra nhồi máu cơ tim hiện tại hoặc trước đó.

Chẩn đoán phân biệt

Nhồi máu cơ tim.

Bệnh cơ tim - phì đại (HOCM), bệnh cơ tim thâm nhập.

Tim xoay - cực xoay chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ.

Lỗi vị trí chuyển đạo - ví dụ như chuyển đạo chi trên được đặt ở chi dưới.

Ví Dụ:


Sóng Q sâu (II, III, aVF) với ST chênh lên do MI cấp.


Sóng Q sâu (II, III, aVF) với đảo ngược sóng T do MI trước đây.


Sóng Q thành bên (I, aVL) với ST chênh lên do MI cấp.


Sóng Q thành bên (V5-6) với sóng T phẳng do MI trước đây.


Sóng Q vùng trước (V1 - 4) với ST chênh lên do MI cấp.


Sóng Q vùng trước (V1 - 4) với sóng T đảo ngược do MI gần đây.

Mất sóng Q bình thường

Trường hợp không có sóng nhỏ Q (vách ngăn) trong chuyển đạo V5 - 6 cần được xem xét là bất thường.

Sóng Q vắng mặt trong V5 - 6 phổ biến nhất do LBBB.

Xem theo danh mục